Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

CON ĐƯỜNG TÔI ĐI

Nếu có người hỏi tôi:

Con đường anh đi xuất phát từ nơi đâu?

Tôi thành thật trả lời:

Con đường tôi đi xuất phát từ trái tim của mẹ …

Nếu có người hỏi tôi:

Con đường anh đi như thế nào?

Tôi mỉm cười trả lời:

Có thể con đường lắm chông gai rèn đôi chân thêm sắt đá ….

Nếu có người hỏi tôi:

Con đường anh đi sẽ đến nơi nào?

Tôi ngẩng cao đầu trả lời:
                                    Con đường nào xuất phát từ trái tim sẽ đến với trái tim!

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

CHÚC MỪNG NĂM MỚI QUÍ TỴ - 2013

Rồng bay lên tận mây xanh,
Rắn vừa tìm đến hỏi anh đâu rồi?
Rồng đi để lại mấy lời:
Tôi đi tìm nước tưới đời thêm xuân!
Dặn rằng: Chú ở cùng dân,
Chăm lo đời sống, đỡ đần cây xanh,
Lũ chuột kia phải lo phòng giữ,
Cùng với Mèo bắt cổ chúng đi...
Cho tròn nhiệm vụ năm ni,
Bao giờ ngựa đến Rắn thì giao ban....
Cỗ xe thiên mã sẵn sàng,
Đưa Rắn thẳng tiến thiên đàng vui chơi

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

CHUYẾN ĐÒ THỜI GIAN

Kính tặng Cô Đặng Thị Ng...!


Cô mãi là cô giáo mẫu mực trong trái tim của học trò làng Thế Chí Tây!

Viết bài này vào một đêm thanh vắng, với tâm trạng của một người trò nhỏ luôn yêu quý cô giáo của mình trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày Nhà giáo Việt Nam, xin gửi đến cô và các thế hệ thầy cô giáo đi trước tấm lòng biết ơn vô hạn của những đứa học trò nơi miền quê nghèo Thế Chí Tây. Ngoài đường đã vắng tiếng xe cộ, gió đông vẫn giật từng cơn liên hồi....
Xem hình
Hình minh họa (nguồn SPC)

          Nắng chiều tháng tám oi ả, nóng bức, từng giọt mồ hôi nhễ nhại chảy dài trên má, lưng áo ướt đẫm như vừa tắm xong…. Tôi đạp xe len lõi vào dòng người và xe cộ nối nhau đi trên đường phố hối hả cho kịp chuyến đò chiều từ Huế về làng Thế Chí Tây lúc 14 giờ. Trong đầu tôi miên man suy nghĩ về quê hương nơi có cánh đồng lúa vàng ươm đang mùa gặt. Nơi đó có ba mạ tôi và bà con đang tranh thủ cướp trời với phương châm “xanh nhà hơn già đồng”… vừa gặt lúa vừa chạy lũ. Nghĩ đến đó tôi càng quyết tâm về để đỡ đần cho gia đình trong thời gian được nghỉ học.
          Thật may mắn! Tôi kịp đến bến đò Đông Ba cùng vừa lúc đò Chợ Biện chuẩn bị nhổ neo xuất bến. Tìm được cho mình một chỗ ngồi phía sau buồng lái, tôi ngồi ngắm cảnh tấp nập của bến đò Đông Ba, trên bến, dưới thuyền, người lên kẻ xuống vui mắt đáo để…. Hành khách đi đò về các miền quê như Vinh Thanh, Vinh Hương, Vinh Toàn, Vinh Lộc, chợ Vĩnh Tu, chợ Đò, chợ Mới…. Thỉnh thoảng, có tiếng người í ới gọi nhau “ Ai về chợ Mới xuống đây bà con ơi!” “Ai về Vinh Thanh qua đây…”
          Ngồi trên đò khoảng được năm phút, đang dõi mắt về phía bến đò, chợt tiếng anh Chắm chủ đò  hỏi “Mấy giờ rồi?” “Hai giờ kém mười lăm” – Một hành khách đáp lại. Anh Chắm đi về phía mũi đò nói to: “Bà con ai về Thế Chí Tây mau xuống đò, đò sắp chạy đây”. Nói xong, anh liền vào khoang máy kiểm tra tình trạng kỹ thuật để chuẩn bị khởi động máy.
          Đúng hai giờ chiều chiếc đò về chợ Biện khởi hành, làn gió nồm trên sông Hương lướt qua làn da nhẹ nhàng làm tôi sảng khoái vô cùng. Tôi lại suy nghĩ đến quê hương mình với hình ảnh hai hàng dừa xanh chạy dọc đường Trưa mát rượi…. Độn cát trải dài nơi đó thuở thiếu niên chúng tôi thường tụ tập để rảo sim, móc, mờn mơn, trù trè hoặc hái trái bi lời để bắn ống bóc. Những kỷ niệm ấu thơ thật là đẹp!  
          Đò chạy được khoảng 50 mét, bỗng tôi phát hiện từ xa phía trên đường Huỳnh Thúc Kháng có người đạp xe theo gọi đò…. Từ phía mũi đò có tiếng người nói to” anh Chắm! Ghé lại cho cô Trang về với!” . Chiếc đò giảm tốc độ, rẽ ngoặc vào bờ để lại đằng sau một vệt sóng ngoằn ngoèo xô mạnh về phía bờ.
         Nghe nhắc đến tên cô Trang, tôi nhanh chóng nhảy lên trần đò tiến nhanh về phía mũi. Không kịp chào, tôi liền giúp cô đưa xe đạp và các thứ lên đò để  về làng cho kịp thời gian. Cô vừa ổn định chỗ ngồi liền nói “ cảm ơn em! Xuýt chút nữa cô bị trễ đò!”. Tôi hỏi “ Thưa cô! Cô đi Huế chơi hay có việc chi rứa cô?” “Cô đi thăm người bạn sắp đi xa, lúc ra về cứ bịn rịn mãi, may chút nữa cô bị trễ đò” Ngừng một lát, cô tiếp “Tối ni cô có buổi dạy cho lớp xóa mù ở vùng đầm phá”. Như ước lượng được thời gian, tôi hỏi “ Em nhớ không nhầm thì cô dạy ở lớp xóa mù khoảng hai năm rồi, phải không cô?” “Ừ! Em nhớ chính xác đó! Từ ngày cô nghỉ mất sức là cô đi dạy lớp xóa mù ở đầm phá cho tới chừ luôn”
          Cô Trang  là cô giáo tôi thời học trường tiểu học cộng đồng Thế Chí Tây. Mặc dù gương mặt cô bây giờ đã hiện lên nhiều nếp nhăn theo thời gian nhưng nét xưa vẫn còn đó với dáng người cao gầy, đôi mắt sáng ngời long lanh trên gương mặt hiền từ, nhân hậu. Giọng nói cô nghe ấm áp, dịu dàng mà thân mật biết bao… bởi thế, lũ học trò chúng tôi đứa nào cũng quý cô.
          Còn nhớ thời đó cả xã Điền Hòa chỉ có 2 phân hiêu trường tiểu học, phân hiệu một ở trước cổng chùa mái lợp tôn gọi là trường Tồn, phân hiệu 2 ở hói Chùa  mái lợp ngói nên gọi là trường Ngói. Tôi ở xóm 3 nên học từ  lớp một đến lớp 3 ở trường Tồn sau đó học lớp bốn, năm ở trường Ngói.
     Năm lớp 1, tôi học cô Mai mà hình ảnh của cô còn ấn tượng với tôi cho đến bây giờ đó là ngày ngày mang cái bụng bầu vượt mặt lên lớp. Thỉnh thoảng, cô ngáp rõ dài, đôi khi ngủ gật trong giờ dạy. Lớp 2, cô Nga dạy chúng tôi, mỗi ngày lên lớp, cô thường dắt theo thằng con trai tên Nhân. Bấy giờ hắn khoảng 3 tuổi nhưng cực khôn và nghịch ngợm. Hắn biết không ai dám làm gì hắn nên hay bắt nạt chúng tôi. Đến lớp 3 tôi mới học với cô Trang.
      Học với cô Trang là sướng nhất bởi cô chưa chồng, không bận bịu nhà cửa, con cái nên cô rất tập trung chuyên môn để dạy dỗ học trò. Cô chăm chút cho lũ chúng tôi từng nét chữ, từng phép tính. Khi mệt mỏi cô lại kể chuyện với giọng rất  dí dỏm, hài hước làm cho học trò cứ ngoác cái miệng cá ngão ra mà nghe. Có khi cô tập hát cho chúng tôi. Lớp 3 thời đó cũng đã biết phân biệt con trai, con gái chơi riêng với nhau. Trong lớp hễ có đứa nào chơi với con gái, lập tức bị lũ con trai chọc quê muốn khóc luôn! Rứa mà cũng  có hai đứa thường hay chơi với con gái đó là thằng Ngọc và thằng Đợi. Dù lớp có chọc mấy chúng nó cũng không xấu hổ. Cũng chính hai thằng này hay lên biểu diễn bài múa “Kìa con bướm vàng” trước lớp cho các bạn coi. Chúng nó múa dẻo hơn cả bọn con gái. Thằng Ngọc nay ở Đà Nẵng nghe nói làm ăn khá lắm. Nó đầu tư về xây lăng mộ và  nhà từ đường to nhất làng đến nay vẫn chưa xong. Còn thằng Đợi người làng Phú Nông qua làng Thế Chí Tây tản cư theo học với chúng tôi, kể từ ngày giải phóng năm 1975 đến nay “bặt vô âm tín” không biết nay ở chỗ mô?
          Đặc biệt, cô Trang giảng bài hay lắm. Với chất giọng trong trẻo, mỗi lần đọc thơ, kể chuyện cổ tích, chuyện lịch sử mà từng câu, từng chữ lúc lên bỗng, lúc xuống trầm cứ như hớp hồn lũ học trò chúng tôi. Cho đến giờ tôi vẫn ấn tượng những câu chuyện cổ tích như “Tấm Cám”, “Thạch Sanh”, “Cây khế”… chuyện kể lịch sử như “Trần Hưng Đạo 3 lần phá tan Nguyên Mông”, “Lê Lợi đánh tan nhà Minh”, “Vua Quang Trung đại phá quân Thanh”….
   Kể cũng lạ, ngày ấy ở bậc tiểu học chúng tôi chỉ học nội dung vỏn vẹn trong cuốn sách “8 môn học yếu lược” thế mà học đến đâu nhớ đến đó. Có những bài thơ câu chuyện kể về cuộc sống đời thường nhưng gây ấn tượng rất sâu sắc về  tính nhân văn và đạo đức con người. Kết thúc một bài đọc về chuyện đạo đức thường được ghi nhớ bởi 2 câu lục bát, tỷ như “ Thương người, người lại thương ta/ Làm ơn chẳng thiệt đâu mà vội lo”, hay các bài đọc thuộc lòng có nội dung rất nhẹ nhàng “Thời giờ ngưa chạy tên bay/ Hết mưa lại nắng, hết ngày lại đêm/ Đông qua Xuân lại trước thềm/ Hè về rực rỡ êm đềm Thu sang”…. đại loại như vậy nhưng bây giờ lớn rồi tôi mới hiểu dụng ý của người làm sách là nhằm giáo dục cho học trò biết quý trọng thời gian đồng thời biết tên các mùa trong năm…. Những nội dung đó được cô giáo tôi chuyển tải hết sức sinh động.
       Và cứ thế, hằng ngày, hằng giờ, cô giáo của chúng tôi miệt mài đem từng hơi thở, nhịp đập của trái tim yêu trẻ cháy bỏng được cô đọng trong từng bài giảng đến với lũ học trò thơ dại của mình nơi miền quê nghèo mà nổi tiếng hiếu học. Đó là những ấn tượng về cô giáo của mình thời tôi còn là cậu học sinh tiểu học trường làng mà cho đến bây giờ tôi không bao giờ quên....
       Ngày ấy, lũ học trò chúng tôi tinh nghịch nhưng hồn nhiên lắm! Đặc biệt, đối với thầy cô giáo, chúng tôi xem như là thần tượng của mình. Bởi thế, chúng tôi thường hay bênh vực cô mỗi lần cô tôi bị  mấy anh thanh niên trong làng trêu ghẹo. thậm chí họ còn cho tiền lũ trẻ chăn trâu dùng đinh đục vào vách phía ngoài lớp học câu “Cô Trang ơi, lấy chồng cho rồi kẻo già” ...nhưng cô cũng mặc, không bao giờ có biểu hiện bực bội gì cả... Số là vì cô tôi đã lớn tuổi nhưng không chịu ai! Người trong làng đồn rằng cô phải lòng một anh lính nhưng anh ta đã bị mất tích trong một lần hành quân, từ đó cô cứ nuôi hy vọng có ngày gặp lại người xưa cũ... nhưng cái ngày ấy cho đến nay vẫn chỉ là vô vọng....Thế mới biết lòng thủy chung của con người trong cô tôi thật  vô bờ bến!
        Sau năm 1975, cô tôi vẫn  tiếp tục nghề phấn bảng mà thời bấy giờ người ta gọi là “Cán bộ lưu dung” đến năm khoảng 1987 hoặc 1988 gì đó vì tình hình sức khỏe không thể tiếp tục đứng lớp được nữa, cô tôi xin được nghỉ mất sức. Từ đó, một mình cô lăn lộn với cuộc sống đời thường. Cô mở một quán nước nhỏ ở gần đình làng buôn bán để kiếm sống qua ngày.... Nhưng cái nghiệp dạy học vẫn đeo bám lấy cô khi cô tiếp xúc với các cháu thất học vùng Đầm Phá. Nhìn các cháu ngày ngày theo cha mẹ lặn ngụp ngoài Phá Tam Giang để kiếm mớ tép, con cá đem đổi lấy gạo ăn, gia đình các cháu nghèo quá nên các cháu không được đi học. Thấy thương các cháu, cô bèn đăng ký dạy lớp bổ túc ban đêm cho các cháu, mong sao lớn lên, chúng biết đọc,  biết viết, biết làm tính đơn giản để khỏi mặc cảm với xã hội....
        Đò đang chạy thẳng bỗng bánh lái bẻ ngoặc, từng con sóng vỗ nhẹ lên mạn đò tạo nên âm thanh lụp bụp,  mũi đò chuyển hướng, tiếng anh Chắm chủ đò xóa tan ký ức của tôi “Đò sắp cập bến Chợ Biện, bà con chuẩn bị đồ đạc để về nhà”
      Trước mắt tôi, xóm chợ Biện hiện lên với lũy tre xanh rõ mồn một, nổi bật trên nền lúa chín vàng trải dài khắp cánh đồng. Trên bến đò, người và xe vận tải đứng đợi đón người và hàng từ Huế về đông như hội.
      Đò cập bến, tôi nhanh chóng chuyển giúp cô chiếc xe đạp và một số đồ đạc. Hai cô trò chia tay nhau mà mỗi người một tâm trạng. Tôi nán lại bến đò một lúc chờ dáng cô khuất hẳn vào rặng tre chợ Biện mới trở lại mui đò dắt chiếc xe đạp rồi lững thững đạp chậm rãi trong niềm xúc động khó tả.
       Chuyến đò đó đã xảy ra cách đây khoảng 18 năm về trước mà tôi vẫn nhớ như ngày hôm qua.... Đó là nơi mà tôi được có cơ hội ôn lại những ký ức tốt đẹp về cô giáo của tuổi thơ dại khờ nhưng đầy ắp những kỷ niệm khó phai mờ trong tâm trí tôi. Cô ơi! Cuộc đời cô như chuyến đò thời gian. Cô đem niềm vui, hạnh phúc đến cho người khác nhưng chấp nhận hy sinh tất cả bản thân mình.... Và ở đâu đó khắp trên đất nước này, những đứa học trò năm xưa của cô bây giờ có người đã thành ông, thành bà, làm nhiều nghề khác nhau để kiếm kế sinh nhai....Nhưng tôi tin rằng tất cả đều ghi nhớ công ơn của cô đã dạy dỗ cho họ nên người.
        Năm ngoái đây, tôi lại gặp cô ở thành phố Buôn Ma Thuột tại lễ cưới một đứa cháu họ của cô. Hỏi thăm mới biết nay cô không ở làng nữa mà vô Phan Rang ở với đứa cháu. Ngày ngày đi lễ chùa hoặc nhà ai có việc tang tế thì cô đến giúp việc tụng niệm, lấy việc Phật sự để vui tuổi già, sống trọn quãng đời còn lại trong thanh bạch....
                            Buôn Ma Thuột, ngày lập đông, năm Nhâm Thìn - 2012
                                                                                                                                                                                          Đặng Đăng Phước

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

DẠO CHƠI TRĂNG

Trời mùa thu trong xanh.
Nhớ trăng thu da diết.
Em cứ đi biền biệt.
Anh mòn mỏi mắt trông.
Anh ươm mãi hoài mong
Có ngày em trở lại
Trên đường làng sánh bước.
Trăng sáng dạo chơi trăng!

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

ĐỌC BÀI THƠ “HOÀNG HẠC LÂU”




Lầu son, gác tía bỏ đi đâu?
Nghìn năm còn đó “Hoàng Hạc Lâu”
Thi nhân thiên cổ tài hoa thế!
Dám mượn hồn thơ một vài câu.

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

Biển Đông - Bạch Đằng Giang

                                

Hoàng Sa ơi hỡi, Trường Sa ơi!
Biển Đông đã dậy sóng lên rồi,
“Gió lạ” ào ào từ Phương Bắc
“Nước lạ” đưa tàu đến dạo chơi?
 Anh em “bốn tốt” còn chăng hỡi,
 “Mười sáu chữ vàng” há nuốt lời?
 Bạch Đằng Giang xưa còn đỏ máu,
  Việt Nam sử sách  mãi rạng ngời!



Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Thế Chí Tây thân yêu! chuyện xưa, chuyện nay…

          Thời buổi bây giờ mà kiếm một nơi có chỉ số an toàn cao như làng mình là hiếm lắm! Này nhé! Gặt lúa xong, nếu chưa kịp chở về nhà thì cứ để hẳn ngoài ruộng không phải lo nghĩ gì! Mùa hè, đêm ngủ không cần đóng cổng. Cửa ra vào mở toang để lấy gió trời. Xe cộ để ngoài sân không cần khóa.... Nghe nói có người ở Sài Gòn về làng đi xe máy đến nhà ai, theo thói quen cứ khóa cổ xe, bị dân làng chọc quê muốn độn thổ!
         Đầu tháng 6 năm 2012, tôi có dịp về lại quê hương Thế Chí Tây thân yêu! Thời tiết miền Trung mùa hè nghe nói mấy ngày trước oi bức, khó chịu lắm! Nhiệt độ trong ngày dao động từ 35 đến 38 độ! Thế nhưng, thật may mắn,  buổi trưa tôi về đến nhà thì chiều đến trời mưa một trận ra trò! Tôi đùa với bà con rằng mình đem mưa trong Đăk Lăk về…!
         Mưa xối xả! Những hạt mưa to bằng hạt bắp rơi từ trên cao đan xéo vào nhau hối hả trút xuống cánh đồng lúa đang lất phất phủ màu xanh lá mạ non đem đến cho bà con làng ta viễn cảnh về một vụ lúa hè thu tươi tốt, bội thu! Chợt nhớ câu tục ngữ xưa của các bác, các chú quê mình “ Mưa tháng sáu – máu rồng”.
       Trong sân nhà tôi, con gà mẹ trú mưa dưới tán là cây mai mà mình thì không quên xòe cánh che cho đàn gà con khỏi ướt, miệng kêu cục, cục. Đàn vịt mới ra ràng hào hứng sục cái mỏ lép kẹp của mình vào đám cỏ sủng nước đào bới những con giun. Thỉnh thoảng, có con tìm được mồi, chúng tranh nhau, đuổi nhau trong mưa, chạy qua chạy lại trông thật ngộ nghĩnh!
                                                            Sân vận đông Điền Hòa
       Đứng trong nhà nhìn ra đường lối thấy thấp thoáng bóng bác Đ…, anh V… đi làm đồng về bị mắc mưa, người “ướt như chuột lột!”….  Tôi chợt nhớ về những kỷ niệm của một thời trai trẻ xông pha trên cánh đồng làng cùng với chiếc máy cày MTZ của hợp tác xã…..
      Vào vụ hè thu, cần kíp thời gian làm đất cho bà con kịp xuống đồng, anh em máy cày chúng tôi làm việc cả ngày lẫn đêm 3 ca máy ròng rã. Có hôm, do tranh thủ cày đêm cho mát trời, tôi kết thúc ca máy, nhìn đồng hồ lúc đó đã 3 giờ sáng!  Giờ nghĩ lại mà kinh! Khổ nhất là lúc máy bị lầy! Kỷ niệm với tôi nhất là lần cả 2 máy MTZ của HTX bị lầy ở Biền Đội 5! (Hói Chùa)
        Hôm đó, chiếc máy MTZ do tôi điều khiển đang chạy bon bon trên cánh đồng bổng tiếng động cơ gầm rú vang trời, cột khói từ ống xả bốc lên đen ngòm. Tôi liền trả số về rồi tiếp tục tiến lên nhưng máy càng tiến, bánh sắt càng bám đất, không đi nổi, đầu máy cất cao, nếu không cắt côn kịp, máy sẽ lật chổng vó lên trời như trâu bị trục kỳ! Tôi dừng máy lên tìm chú Nghết để xin ý kiến và đồng thời nhờ máy chú trợ giúp….Sau một hồi thảo luận, chú bảo tôi lấy máy của chú men theo bờ ruộng để đến ứng cứu chiếc máy đang bị lầy! Chiếc MTZ thứ 2 của HTX tiến lên, những tưởng sẽ trợ giúp được chiếc đang bị lầy…ai dè cũng như tình trạng vừa nói, đất bám cứng bánh sắt, động cơ gầm rú, cột khói đen ngòm cả một bầu trời… và thế là chiếc MTZ thứ 2 bị lầy cách chiếc thứ nhất chỉ khoảng 10 mét. Tôi trở thành tội đồ của HTX! Đang lúc “dầu sôi lửa bỏng” mà cả 2 con trâu sắt của hợp đều bị lầy! Và thế là HTX huy động toàn dân chặt cây dương, bạc hà dọc ở đường làng. Các đội trưởng phân công bà con mang dây thừng, cuốc xẻng chống lầy cho máy! Khổ thì có khổ nhưng lúc đó cũng vui! Nhớ nhất là cứ mỗi lần lót cây chống lầy cho máy xong, một đội thanh niên lực lưỡng dùng dây thừng buộc vào đầu máy kéo kìm giữ không cho đầu máy cất cao mỗi khi máy tiến lên, có khi do lái máy cắt côn đột ngột, hai bánh trước của máy từ trên cao rớt xuống làm bùn văng tứ tung, mặt mũi người nào người nấy dính bùn trông buồn cười lắm! Sau một đoạn đường máy tiến lên các bác, các anh lại phải đào đất trong bánh lồng cho nhẹ để máy có cơ hội thoát lầy! Cuối cùng nhờ sức dân, 2 chiếc MTZ đã được cứu. Tối hôm đó, hợp tác xã chi tiền sắm lễ vật tạ thổ thần, sau đó cán bộ HTX cùng anh em uống rượu tại nhà tôi chuyện trò rôm rã về kinh nghiệm lái máy, chống lầy… thật vui vẻ như thể lập được một chiến công lớn!
        Không phụ lòng của bà con, anh em tổ lái đã đưa 2 chiếc MTZ của HTX trở lại chạy bon bon trên cánh đồng làng từ Cồn Dàng, Cồn Thót, Bác Vọng, Cồn Nổi,  ruộng Bánh cho đến Hói Chùa, Biền Mới, Biền Ông Đội … tạo điều kiện cho bà con xuống đồng  kịp vụ. Sau mấy năm chinh chiến với MTZ chúng tôi mới vở lẽ ra  do đất mặt ruộng bị khô, mức nước cạn không đủ để bánh lồng nhả đất nên máy bị lầy là chuyện đương nhiên! Mới đó mà đã 22 năm có lẻ, thời gian trôi thật nhanh, không chờ đợi con người!
        Buổi sáng hôm sau, đất trời dịu lại, cái nắng chang chang mùa hè cũng bị đẩy lùi bởi  trận mưa rào chiều qua. Anh em chúng tôi tranh thủ đưa các cháu ra biển để hít thở không khí trong lành  và  tìm cảm giác yên bình của vùng biển quê hương.
      Trên đường ra biển, đập vào mắt chúng tôi là màu xanh ngút ngàn của rừng tràm hoa vàng! Có câu “Người ta hoa đất” quả không sai! Còn nhớ, độn cát ngày xưa vào mùa hè, lũ trẻ chúng tôi đi ra biển phải vượt qua từ 2 đến 3 cụp với chặng đường khoảng hơn 2 km, cát  nóng bỏng dến rát cả gan bàn chân! Người ta bảo hoàn cảnh dạy khôn cho con người! Trong những lúc như thế, chúng tôi vừa đi, vừa chạy lại vừa phải liếc mắt thật nhanh để quan sát phía trước, thỉnh thoảng có bụi cỏ dại mọc trên cát,  cả bọn hè nhau chạy thật nhanh đến để nghỉ chân…. Nhớ thuở thanh niên còn ở quê nhà, lúc 3 giờ sáng, chúng tôi đã gọi nhau í ới đi bốc hàng lên xe bò để chở ra biển để cho kịp vô làng lúc 7 giờ kẻo bò bị nắng, người mệt đi không nổi! Thế mà giờ đây, từ làng ra biển, đường cấp phối chạy dài, lại còn có đường quốc phòng nối các phường từ Phường Tân Hội đến phường Mỹ Hòa, phường Thế Mỹ A, Thế Mỹ B, phường Mới, phường Hải Nhuận… phải nói là giao thông thuận tiện vô cùng! Từ làng ra biển, nếu đi bằng xe máy hết khoảng 3 phút! Chợt nghĩ, ước gì mình có đám đất trên đường ra biển sau này làm căn nhà nho nhỏ để dưỡng già thì tuyệt!
          Mãi suy nghĩ miên man về quá khứ, trước mắt chúng tôi một vùng biển quê hương hiện ra trong làn gió ban mai thoảng nhẹ. Xa xa là đường chân trời mà mắt nhìn có cảm giác rơi vào khoảng không vô định!
         Bình minh trên biển quê hương thật thanh bình yên ả! Từng đợt sóng nhấp nhô trong nắng mai… xa tít ngoài khơi, một vài chiếc gọ của bà con làng Thế Mỹ B đi đánh cá từ hôm qua đang chạy về phía đất liền! Cách chúng tôi không xa, một nhóm vừa thanh niên vừa trẻ con đang tắm và nô đùa với sóng biển, tiếng cười nói rộn rã, vui tươi! Chợt nghĩ quê hương mình bình yên là thế, còn trên đất nước của chúng ta biết bao nhiêu vùng biển đang bị ngoại bang lăm le chiếm đoạt mà thấy chạnh lòng….
           Lũ trẻ nhà tôi cùng với các anh em họ của chúng chạy ùa ra biển cho thỏa nổi khao khát, chờ đợi vì chúng đếm lùi từng ngày từ khi chúng tôi lên kế hoạch về quê cho đến hôm nay mới được tắm biển …. Trong suy nghĩ của các con tôi, biển đối với chúng là cả niềm vui, niềm khao khát và nổi nhớ bởi thỉnh thoảng chúng mới được về quê chứ ở Đăk Lăk có khi nào chúng được nhìn thấy biển? Nhìn chúng nô đùa với sóng, chơi trò xây nhà trên cát  mà trong lòng tôi thấy vui vô cùng! Chắc hẳn sau này lớn khôn chúng sẽ có những kỷ niệm đẹp về quê hương nơi có ông bà tổ tiên chúng sinh ra và lớn lên trên dải đất này  đó chính là làng Thế Chí Tây thân yêu của chúng ta!
                                             Biển quê mình thật đẹp và hiền hòa
          Xóm làng quê hương Thế Chí Tây vào mùa hè thật bình yên! Con đường hạnh phúc của làng được phủ thêm lớp áo mới nên mặt đường khá phẳng! Đi một đoạn lại găp chỗ các thợ xây đang đặt lại cống để tạo độ vững chải cho con đường đồng thời thoát nước trong mùa mưa sắp tới. Xe đạp có thể dắt qua được nhưng đi xe máy thì phải chạy vòng ra tỉnh lộ 49 rồi mới trở lại đường làng …. Hai bên đường, hai hàng dừa xanh tỏa bóng mát rượi! Có điều tre làng, một biểu tượng của làng quê xưa, nay chỉ còn trong ký ức! Dõi mắt nhìn xa ra cánh đồng, lúa đang mơn mởn xanh màu lá mạ. Một vài thửa ruộng trồng ớt đang mùa thu hoạch, những quả ớt chín đỏ thắm trông thật vui mắt! Thỉnh thoảng, tôi gặp người làng đi làm đồng hoặc đi công việc. Dù bận đến mấy bà con cũng dừng lại hỏi thăm nhau vài câu nghe thật ấm áp, chân tình! Gặp lại bà con xóm giềng, anh em bạn bè ai ai cũng tay bắt mặt mừng  nhắc lại chuyện xưa, chuyện nay…. Chuyện từ thời bao cấp đi chợ mua được mớ cá cho con ăn phải dấu dưới bó rau muống kẻo dân làng biết được, đến khi họp không bình xét cho mua lúa điều hòa! Chuyện chống lệnh bình xét đi kinh tế mới, bị HTX tẩy chay không điều công đi làm, không chia lúa phơi mà người ta gọi những thành phần đó là đội 10. Gia đình tôi lúc bấy giờ sống trong tình trạng đó. Thật khốn khổ! Anh em tôi đi học một buổi còn một buổi cùng với ba mạ tôi đi mót má còn sót lại 2 bên rảnh vồn má đem đi cấy ở các Rộc, hói Ngang hoặc ở chỗ ruộng khai hoang men theo bờ con sông Ô Lâu để lấy cái cho vào miệng. Ơn trời, gia đình tôi cuối cùng cũng qua cơn bỉ cực. Nhớ lại thời đó, trạc tuổi chúng tôi 15- 16 đang tuổi ăn tuổi ngủ mà phải thức đến 12 giờ mới nhận được 60 kg lúa tươi đem về phơi đong sản lượng theo mẫu của HTX. Có hôm, đến phiên nhà mình thì hết lúa phơi đành gánh quang thúng không ra về lúc 2 giờ sáng! Thịt heo thời đó được coi là món ăn xa xỉ! Mỗi năm chỉ được ăn thịt heo chính thức 2 lần đó là ngày Quốc Khánh và Tết Nguyên Đán, còn lại năm thì mười họa, có heo nhà ai bị chết, ba mạ tôi cũng cố lấy nợ năm thăng lúa cho con ăn rồi đến mùa đong lúa. Tôi nhớ mỗi lần đội 6 mổ thịt heo ở mội mệ M… anh em chúng tôi đi mót mỡ ruột đem về rán để kho nước ruốc ăn dần…. Thế mà kể từ năm 1986, nhờ chính sách khoán 10, nay quê hương đổi mới từng ngày, cảnh thiếu gạo trong mùa giáp hạt không còn nữa, bà con đã xây nhà ở và các công trình lăng tẩm khang trang, đẹp đẽ! Các nghề phụ và dịch vụ mở ra…. Đáng tiếc là nguyên liệu rơm sẵn có nhưng làng ta chưa mạnh dạn học tập công nghệ làm nấm rơm. Nhiều hộ bỏ vốn đầu tư nghề nuôi tôm ở biển nhưng chỉ phát triển được mấy năm trước, hai năm gần đây tình hình dịch bệnh, tôm chết hàng loạt làm thiệt hại kinh tế đáng kể cho một số hộ nuôi trồng thủy sản.
                                                          Cánh đồng lúa vừa gieo sạ
         Vừa đi bộ vừa chuyện trò say sưa với bạn tôi về chuyện xưa, chuyện nay… con đường làng dẫn chúng tôi đi ngang qua trung tâm hành chính xã. Trước mắt chúng tôi, văn phòng HTX hiện ra với những ký ức thời thơ ấu của tôi. Chính mãnh đất này nguyên trước đây là đất của nhà tôi với đầy ắp kỷ niệm....
                                                Trụ sở UBND xà Điền Hòa
           Ngày đó tôi là bộ đội đóng quân tận bên nước Lào xa xôi. Năm 1984, UB xã vận động  cả xóm di dời để xây trạm y tế xã: HTX đổi đất cho nhà tôi 1 sào ở sau lưng trường mẫu giáo thôn 3, O Giêng ra ở Hói Chùa , Chú Th… ra Hói Biện, duy chỉ có nhà chú M…(Trai) cương quyết không đi nay vẫn ở đó. Nơi đây đang diễn ra trận giao hữu cầu lông. Cạnh đó là hoa viên Khăn Quàng Đỏ nơi vui chơi giải trí cho các cháu trơ trọi, im ắng bởi sự xuống cấp trầm trọng của nó! Càng nghĩ càng chạnh lòng!
        Con đường dẫn chúng tôi xuống chợ Biện lúc nào không hay! Dạo một vòng quanh chợ thấy cơ sở hạ tầng khang trang hơn trước, tuy vậy hàng quán còn đơn điệu, khách mua thưa thớt! Trong đầu tôi lại hiện lên cảnh chợ Biện thời từ năm 1972 – 1974: Chợ đông nghịt từ ngoài âu thuyền cho đến đầu đường Đập (Tỉnh lộ 49). Nghe bà con làng mình truyền miệng nhau rằng chợ Biện bị làng khác trộm mất lư hương nên bây giờ chợ không đông như trước, không biết thực hư thế nào? Ước gì chợ được như xưa….
                                   Trụ sở HTX Điền Hòa (Trước đây là trạm y tế xã)
          Ký ức về chợ Biện xưa trong tâm trí tôi là hai cái đình lớn đối diện nhau theo chiều song song với tỉnh lộ 49, hai bên tả hữu là hai dãy quán bao gồm các quán nhỏ cho các tiểu thương thuê để buôn bán nhỏ. Những người buôn bán ở chợ thời tôi còn thơ ấu nay đã mất mà tôi biết có Mệ Â…, Mệ M…, Mệ T…, Bác K, thím Tr…vv….. những người đang sống có bác Dỏ,  o Kiêm, o Trung, o Trắc, o Giêng….Ngoài bán tạp hóa ra, lúc đó  còn có quán nhậu của chú Sụy, Bác K… Giữa chợ là khu vực bán rau được che chở bởi hai cây Cừa và một cây Bồ đề tỏa bóng mát rượi, khoảng đất trống giữa cái đình phía ngoài và bể nước chống cháy là nơi dành cho chợ cá…. Nhìn xa ra bợt Rào, bến đò chợ Biện nay  còn đó nhưng hai chiếc tàu phải nói là hiện đại nhất lúc bấy giờ: Bảo Toàn 1, Bảo Toàn 2 và  những chuyến đò dọc đi Huế nay đã lùi xa vào dĩ vãng ...
         Từ ngày xây lại chợ mới, chợ Biện cũ đã bị dỡ bỏ tất cả. Nhìn cảnh ấy, lòng tôi không khỏi bùi ngùi.... Đang suy nghĩ miên man về chuyện xưa, chợt có tiếng gọi nhau đi rà cá ngoài Phá Tam Giang gây sự chú ý của tôi. Tính tò mò lôi kéo tôi đi về phía bến đò....
          Đường ra bến đò chợ Biện, dõi mắt xa xa là cánh đồng lúa trải dài đang mơn mởn xanh. Tôi đi dọc theo bợt Rào để tìm lại ký ức xưa của thời đi câu cá bống, cá ngạnh.... Còn nhớ ngày đó, cứ vào mùa hè, lũ choai choai chúng tôi ngày nào cũng ra câu cá ở đây. Vừa câu chúng tôi vừa nghêu ngao hát những bài hát thuộc loại hót thời đó như “Anh chiễn sĩ quân bưu”, “Đưa cơm cho mẹ đi cày”, “Lê Anh Nuôi”, “Tiếng đàn ta lư”, “Cô gái Sầm Nưa”....
         Chúng tôi thường thả câu ở khúc sông Ô Lâu quãng từ Bến Chợ lên Bến Mới. Tôi nhớ vị trí thả câu nhiều cá nhất là ở Cửa Khâu Bến Mới. Nước ở chỗ này tạo thành vũng xoáy nên cá rất nhiều. Cạnh đó là trộ nò của chú N... có cái trại nhỏ đóng trên bợt rào nơi anh em chúng tôi thường vào xin nước uống. Những cái tên bạn bè cùng câu cá thời đó lại hiện về trong tâm trí tôi:  Hạp, Hòa, Hiến, Huệ, Luyện... nay ở quê nhà. Trí, Vượng, Thọ, Hùng, Tiến, Chớ... ở Đăk Lăk. Tráng, Hiển... ở Sài Gòn. Thương, Tường ở Kon tum.... Còn một đứa nay không biết ở phương trời nào đó là thằng Bích. Ôi! Những kỷ niệm đẹp đó, dù có nói hay không nói ra chắc không bao giờ phai mờ trong tâm trí của anh em chúng tôi. Đang đứng ngắm lại dòng sông xưa và ngây ngất với những kỷ niệm, bỗng tiếng chuông điện thoại reo vang kéo tôi về với thực tại. Đầu máy bên kia là tiếng ba tôi giục tôi về dùng cơm trưa để bàn công việc cho ngày mai.
        Sáng hôm sau, theo kế hoạch đã bàn, anh em chúng tôi đi dọn dẹp, thắp nhang mộ ông nội và mẹ tôi! Phải nói là trước đây độn cát quê mình trồng toàn cây dương liễu để chắn gió và cát. Giống dương liễu mặc dù chịu được cát nóng nhưng chậm phát triển. Nay làng ta chuyển sang trồng cây tràm hoa vàng, giống này phát triển nhanh nên tạo thành rừng dày đặc! Đi trên độn cát bây giờ nếu không xác định phương hướng tốt rất dễ bị lạc!
         Quãng đường mà chúng tôi đi qua trên độn cát khá xa.... Mồ mả trên độn cát dày đặc, đa phần là xây bo tròn, điểm xuyết chỗ này, chỗ kia là lăng mộ, cũ có mới có.... Nhiều lăng mộ xây dựng rất công phu, khang trang, đẹp đẽ! Nghe nói hương ước của làng quy định từ nay nếu chôn người mới chết phải cách đường quan theo hướng ra biển từ 500 mét trở lên để tránh ô nhiễm nguồn nước. Kia rồi! Trước mắt chúng tôi hiện lên đập Hói Biện. Nơi đây, nhớ lại thuở thiếu thời anh em chúng tôi ngày ngày tranh thủ đi cào lá dương đem về làm chất đốt dùng để nấu cơm, nấu nước.... Dưới chân tôi, lá dương rụng trải thành lớp thảm dày đặc trên mặt  con đập mà thấy đã thèm! Hỏi thăm mới biết nay dân làng mình ít người cào lá dương lắm! Nhà khá giả dùng bếp ga, nhà bình thường nếu thiếu rơm thì đi mót củi tràm về đun nấu.... Thế đó! Cuộc sống luôn vận động và có biết bao đổi thay! Tuy nhiên có một điều mà người đi xa như chúng tôi cảm nhận được khi trở lại quê nhà đó chính là truyền thống đạo đức của làng ta vẫn còn nguyên vẹn như ngày nào! Đây là vốn quý mà cha ông đã để lại cho hậu thế!
                                                         Đập ngăn nước Hói Biện
         Người làng Thế Chí Tây dù ở tại quê nhà hay làm ăn nơi đất khách quê người thì trong tâm khảm luôn nhớ về nguồn cội! Nhiều bà con làm ăn xa đã gửi tiền về để chung tay xây dựng họ làng. Đặc biệt nghe nói có anh Văn Công Chắc đang sinh sống ở Phan Rang, Phan Thiết gì đó mà tôi chưa được biết mặt đã từng cúng tiền xây cả nhà thờ họ. Anh còn ủng hộ công đức cho các họ trong làng khi khởi công xây dựng. Rồi cúng tiền tu bổ miếu xóm....Ngoài ra, anh còn tham gia đóng góp xây dựng quỹ khuyến học để động viên kịp thời con em của làng.... Những việc làm cụ thể, những con người cụ thể của làng ta ngày càng được nhân rộng đã vun đắp thêm tình làng nghĩa xóm. Mặc dù hiện nay đời sống kinh tế của bà con vẫn chưa hẳn đã khá so với các nơi khác nhưng nhìn những công trình như các nhà thờ  họ nay đã xây dựng khang trang, đẹp đẽ! Duy nhất còn nhà thờ họ Đặng Đăng đang tiến hành vận động con cháu đóng góp xây dựng lại cho nghiêm trang để thờ tổ tiên ông bà cũng như làm đẹp thêm cảnh quang của làng.... Các công trình nhà từ đường của các nánh, dấp, cố... rồi việc xây dựng lăng mộ... đến nổi nghề thợ nề ở làng nay là nghề dễ kiếm tiền nhất nếu có sức khỏe, việc làm không hết! Nhà ai có việc tang, tế,  hiếu, hỹ là bà con trong làng quan tâm giúp đỡ, thăm hỏi, chia sẻ..... Chính vì thế nên tình cảm bà con xóm làng ngày càng thắt chặt, gắn bó!
                                                   Một góc độn cát quê hương
         Thời buổi bây giờ mà kiếm một nơi có chỉ số an toàn cao như làng mình là hiếm lắm! Này nhé! Gặt lúa xong, nếu chưa kịp chở về nhà thì cứ để hẳn ngoài ruộng không phải lo nghĩ gì! Mùa hè, đêm ngủ không cần đóng cổng. Cửa ra vào mở toang để lấy gió trời. Xe cộ để ngoài sân không cần khóa.... Nghe nói có người ở Sài Gòn về làng đi xe máy đến nhà ai, theo thói quen cũng khóa cổ xe, bị dân làng chọc quê muốn độn thổ!
                         Mùa hè, nhà để ngõ, cửa không đóng, xe để hẳn ngoài sân không khóa...
       Hy vọng  bản sắc và truyền thống của làng Thế Chí Tây sẽ được lưu truyền và phát huy để xây dựng quê hương ngày càng phồn vinh, hạnh phúc! Tương lai tốt đẹp đang chờ đón tất cả bà con Thế Chí Tây thân yêu của chúng ta....
Bài và ảnh: Đặng Đăng Phước