Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

CON TÔI LÀ CÁN BỘ HUYỆN

Tốt nghiệp xong Đại học kinh tế TP.HCM hạng ưu, dù bạn bè rủ rê khuyên bảo hết lời rằng nên ở lại đất Sài thành xin việc mới phát triển chuyên môn, thằng An vẫn không nghe. Nó quyết nghe lời ông già nó trở về quê lập nghiệp!

Quê nó là dải đất miền Trung nghèo khó nhưng được cái làng nó nổi tiếng là nơi có nhiều cây mai thế giá trị, có gốc mai lúc sốt giá người ta trả đến vài trăm triệu! Người làng nó khéo tay cái món uốn mai, chẳng cần học nghề chỉ quan sát, tưởng tượng mà đôi tay tạo thế mai thật mềm mại: gốc này thế rồng bay, gốc kia thế rồng giáng .... Trời sinh ra ba nó có năng khiếu, chẳng bao lâu ông nổi tiếng khắp huyện. Tri huyện vốn là người thích chơi mai thế nên thường xuyên nhờ ba nó chăm sóc mấy chậu mai cảnh. Đi lại lâu thành ra thân tình, một hôm ba nó mở lời với quan tri huyện:
- Em có 2 đứa con trai, thằng anh hiện đã đi làm ở SG, đứa em vừa tốt nghiệp ĐH kinh tế TP.HCM mà em lại muốn nó về ở với vợ chồng em, bác xem có việc gì ở huyện giúp cho cháu một chân, em tạ ơn bác!
- Để anh tính, chú cứ nói cháu về đây, anh nói bên phòng kế toán bố trí công việc, ban đầu chỉ mới hợp đồng đã nghe, dần dần anh tạo điều kiện cho cháu thi công chức để vào biên chế!
- Vậy thì còn gì bằng, gia đình em xin đội ơn bác!

Kể từ giờ phút đó, cảm giác sung sướng trong lòng ông bố nông dân tội nghiệp cứ lâng lâng, viễn cảnh trước mắt ông là thằng con trai sắp làm cán bộ huyện, từ nay có thể ngẫng cao đầu với người làng... Từ nhà tri huyện về, ông bố tội nghiệp gọi ngay cho thằng con đang ở SG:
- Con à! Con thu xếp về đây con nhé, ba vừa xin bác chủ tịch huyện cho con chân kế toán.
- Vậy à ba? Con tính xin làm cho công ty Nhật, chuẩn bị đến ngày phỏng vấn rồi!
- Đừng có mà ngu lâu con ạ! Về huyện làm cán bộ, được ở gần cha mẹ lại có cơ hội thăng tiến làm mở mày, mở mặt dòng họ, mày làm cho bọn tư bản nước ngoài thì khi hết dùng được nó sa thải chứ tốt lành gì!
Mặc dù có chút phân vân nhưng nghe trong trường thầy cô dạy rằng bản chất "tư bản là bóc lột" lại nghe ba nó nói thế nên cũng xuôi lòng.
An nghe lời ba nó về làm chân kế toán ở huyện, lương hợp đồng tháng được 2,5 triệu. Ba nó tạ ơn chủ tịch huyện đã "giúp đỡ cháu" làm quà chậu hoàng mai, thế rồng bay rất đẹp làm ông hài lòng.
Từ ngày nó được làm chân kế toán huyện ba nó tự hào lắm, hễ có ai hỏi về thằng An là dịp để ông khoe về nó: "con trai tui bữa ni nó làm cán bộ kế toán huyện" và cứ hễ chia sẽ được với ai về điều đó, trong lòng ông có cảm giác sung sướng khó tả!
Phần ông chủ tịch huyện sau khi nhận được quà biếu là cây mai thế, ông luôn hứa với ba nó cố gắng đưa nó vào biên chế nhưng ngặt nổi thời buổi "ghế ít, đít nhiều", lũ "con cha cháu ông" đông như quân Nguyên đem bắn 3 ngày không hết thì cái sự vào biên chế của nó khó bằng lên trời ... nhưng ba nó vẫn một mực tin tưởng "ân nhân". Hàng năm huyện tổ chức xét biên chế, cứ hễ mỗi lần xét lại xuất hiện một đứa từ trên trời rớt xuống. Chẳng hạn, năm này cháu ông tỉnh ủy viên, năm sau cháu ngài phó chủ tịch tỉnh, năm sau nữa lại cháu bà chánh thanh tra ... lần hồi mãi đến năm 2014 có công văn giảm biên chế, các nhân viên văn phòng diện hợp đồng bắt buộc phải thi công chức. Theo chỉ tiêu của tỉnh, năm 2014 mỗi huyện chỉ được một suất biên chế nên khó khăn càng chồng chất!
Với quyết tâm chạy bằng được chân biên chế cho con của ba nó cộng với khả năng học tập, kinh nghiệm công tác của nó, ngày đêm nó cố gắng nổ lực học gạo các tài liệu, ai cũng hy vọng nó thi sẽ đỗ nhưng nào đâu có ai ngờ khi công bố kết quả nó được 30 điểm, đứa cháu gái ông bí thư huyện được 30,5 điểm thế là một lần nữa nó trượt biên chế! Nó thì đau lắm nhưng ba nó vẫn tự hào con mình giỏi giang, "chẳng qua thua con bé đó là vì nó được ưu tiên" (!) Phận nó muốn còn là "cán bộ huyện" phải lủi thủi tiếp tục hợp đồng ở vị trí bảo vệ cơ quan nhưng phải làm thay công việc chuyên môn cho đứa cháu gái bí thư huyện ủy vì con bé đó chẳng biết gì chuyên môn cả, thật oái ăm! Làm thêm được thời gian, nản quá nó nghỉ việc ở nhà. Để lấy lòng ba nó, dịp lễ tết huyện cũng quan tâm gửi biếu cho 1kg hạt dưa, vậy mà ba nó sướng rêm!
Nghỉ ở nhà được 1,5 năm nó lại tìm vô xứ Sài thành, lần này may mắn với nó, nó được một công ty tư nhân nhận vào làm kế toán lương tháng 12 triệu, tuy lương chưa to vẫn còn hơn làm kế toán ở huyện 2,5tr/ tháng chỉ để giải quyết "tự hào" của ba nó!
Có một sự kiện rất bất ngờ với gia đình nó là tết nguyên đán năm ngoái, trong khi cả nhà nó đang dọn dẹp nhà cửa thì có một người đàn ông đường đột đến thăm tự giới thiệu là cán bộ huyện, ba nó ngồi tiếp mới được một tuần trà thì người đó nói đây là quà của bác chủ tịch huyện gửi gia đình ăn tết, nói đoạn vội vàng chìa phong bì ra bàn rồi ra xe nổ máy chạy mất, mẹ nó chưa kịp hiểu ra điều gì cả, ba nó mở phong bì ra cả nhà chứng kiến có 30 triệu đồng tiền mặt. Nó chợt đọc trên gương mặt của ba nó, có lẽ đây là trị giá cây mai ba nó tặng quà cho chủ tịch huyện chăng? Dù sao thì tết này cũng có cái để bù đắp thiếu hụt mỗi khi tết đến xuân về ở miền quê thuần nông quanh năm chỉ biết trồng trọt chứ chẳng có buôn bán thêm hàng hóa gì để tăng thu nhập!
Và ba nó lại một lần nữa tự hào!

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

CON NGƯỜI TỰ DO

Tôi đã dành 22 năm của cuộc đời mình để đi học, trong khoảng thời gian đó, tôi trực tiếp trải nghiệm ba nền giáo dục khác nhau.
Tôi cũng là một phụ huynh có ba con nhỏ. Con đi học, tôi vì trách nhiệm và vì tò mò mà dành thời gian tìm hiểu chương trình, rồi học cùng con ở hai quốc gia khác nhau nữa. Vậy tính ra, tôi đã đi qua 5 nền giáo dục Á - Âu, cả trực tiếp và gián tiếp. Vậy tôi thấy gì khác nhau trong 5 nền giáo dục đó? Và quan trọng hơn, bài học nào sẽ được rút ra từ những trải nghiệm thực tế đó?
Tôi thấy rằng, dù khác nhau về văn hóa, thể chế và tôn giáo, nhưng giáo dục có hai loại mục tiêu: Đào tạo con người công cụ và đào tạo con người tự do. Hai mục tiêu này không tách bạch tuyệt đối, thường lồng ghép xen lẫn vào nhau theo chủ ý hoặc vô thức do tập tục. Tùy theo mức độ công cụ hay tự do nhiều hay ít, mà hệ thống giáo dục đó sẽ tạo ra con người công cụ hay con người tự do theo cách tương ứng.
Như mọi hệ thống sản xuất khác, một hệ thống chỉ có thể vận hành trơn tru hiệu quả và không rơi vào hỗn loại khi hình dung đích xác được sản phẩm đầu ra có những thuộc tính nào. Với giáo dục là trả lời tường minh cho câu hỏi: Hệ thống giáo dục hướng đến việc đào tạo con người nào?
Rất nhiều độc giả đã đặt ra câu hỏi tương tự sau các bài viết “Giáo dục không triết lý” và “Giáo dục bế tắc” trên Góc nhìn. Họ chấp nhận phản biện về cải cách hiện thời của tôi, nhưng đề nghị tôi trả lời rằng tôi mong muốn triết lý nào.
Sau nhiều năm trải nghiệm, tôi bắt đầu gây dựng và theo đuổi một triết lý giáo dục mới, phát biểu giản dị rằng: Con người tự do là đích đến của giáo dục.
Con người tự do, như tên gọi của nó, thể hiện trước hết ở việc tự do đi tìm câu trả lời cho câu hỏi cốt yếu “Tôi là ai?”. Đó chính là tự do tư tưởng. Tư tưởng về chính bản thân mình. Con người khác với con vật ở chỗ biết hỏi: “Người là gì, tức Tôi là ai?”, còn con vật thì không. Chính việc tự do đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này là cội nguồn của văn minh nhân loại, hình thành nên nhân tính và xã hội con người. Mà muốn vậy, điều kiện tiên quyết là họ phải có được tự do để tư duy trước khi trả lời cho câu hỏi tôi là ai. Mà để tư duy hiệu quả và chính xác, họ cần thông tin như những nguyên liệu đầu vào. Vì vậy, sự tự do tiếp cận thông tin là điều tối quan trọng. Trong giáo dục, điều này có nghĩa, học sinh và giáo viên phải được quyền tiếp cận với các nguồn tư liệu và tài liệu tham khảo khác nhau, thể hiện trước hết ở nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau được lưu hành.
Trong lớp học, học sinh phải được tự do bày tỏ ý kiến và diễn giải của mình. Nội dung bài học vì thế không được phép đóng cứng vào một diễn giải cụ thể, dù đó là diễn giải của người thầy đáng kính. Nếu không, học sinh sẽ bị thui chột sáng tạo và trở nên máy móc. Việc học rõ ràng không phải chỉ là ghi nhớ giải pháp của thầy cô, mà là tìm được bao nhiêu giải pháp theo cách của riêng mình cho vấn đề đang đối mặt. 
Việc thi cử khi đó cũng không đi theo hướng có học thuộc, biết đúng điều đã được dạy để thi hay không, mà trở thành thước đo cho sự trưởng thành của người học, mà quan trọng nhất là sự trưởng thành trong tư duy của họ, biểu hiện qua năng lực cốt yếu: Năng lực tư duy độc lập.
Vì sao như vậy, vì nếu không có năng lực tư duy độc lập, một người dù đã bạc đầu, vẫn cần phải cậy nhờ đến tư duy của kẻ khác, do đó trên thực tế vẫn là trẻ vị thành niên. Đất nước không cần nhiều trẻ vị thành niên bạc đầu như vậy. Đất nước cần những con người trưởng thành, có tư duy độc lập, để xây dựng một đất nước độc lập và trưởng thành.
Tầng thứ hai của con người tự do là tự do lựa chọn. Lựa chọn là cấp độ cơ bản nhất của hành động. Nhìn thật kỹ chúng ta sẽ thấy mọi hành động có nghĩa đều bắt đầu bằng một lựa chọn.
Vì sao? Vì sau khi đã có tự do tư duy, đã có thể tư duy độc lập, thì ta phải làm điều gì đó chứ? Nếu giáo dục chỉ đào tạo ra những thế hệ học nhiều thi giỏi mà không biết làm việc, không có khả năng lựa chọn thì rõ ràng nền giáo dục đó đã sai đường. Với giáo dục, tự do lựa chọn thể hiện trước hết trong việc được quyền lựa chọn hình thức học tập phù hợp với mình. Vì thế, bên cạnh những loại hình trường hiện có, loại hình homeschooling, tức học tại nhà, cần được thừa nhận về mặt pháp lý.
Quyền tự do lựa chọn còn thể hiện ở việc người học cần được quyền lựa chọn giáo viên phù hợp. Vì thế hệ thống giáo dục cần phải tổ chức sao cho lựa chọn này thực hiện được, ví dụ bỏ biên chế suốt đời. Không thể nào một giáo viên kém, nhưng vì lý do nào đó, vào được hệ thống giáo dục, thì nghiễm nhiêm ở đó gần 40 năm cho đến lúc về hưu mà không có cách nào để thay thế.
Một người có tự do lựa chọn là một người đã có khả năng lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc đời mình, và tự chịu trách nhiệm về sự làm chủ đó. Đó chính là những phẩm chất mà một người học cần hướng tới. Lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc đời mình là thước đo cho sự trưởng thành thực sự cho người học.
Tầng thứ ba của con người tự do sẽ là tự do trở thành, tức được tự do trong việc quyết định trở thành người mình chọn để trở thành. Nó bao gồm tự do thân thể, tự do biểu đạt cảm xúc, tự do biểu lộ tinh thần. Sự thay đổi của chúng chính là sự thay đổi của chúng ta. Người học phải nhận biết và làm chủ được những sự thay đổi đó, thông qua lựa chọn trong tự do và sau khi suy xét.
Cho đến nay, tự do thân thể đã được pháp luật bảo hộ, nhưng nhiều khi còn mâu thuẫn khi triển khai. Quyền tự do thân thể chưa được nhận thức đúng. Bạo hành trong gia đình và nhà trường, một sự xâm phạm tự do thân thể điển hình, vẫn xảy ra thường xuyên. Bạo lực học đường bùng phát cũng là chỉ dấu xấu cho thấy tự do thân thể đã bị xâm phạm ngay trong môi trường trong sáng nhất là nhà trường.
Còn tự do biểu đạt, dù là cảm xúc hay tinh thần, gần như ít khi được xét đến. Một phần do văn hóa truyền thống, một phần do giáo dục đã bỏ qua thứ tự do trở thành này, nên con người không được sống thật với cảm xúc và các giá trị tinh thần của mình, lại càng không dám biểu đạt chúng ra cho người khác thấy. Tất cả những điều này đều không tốt cho sức khỏe tâm thần, cho sức sáng tạo, và rộng hơn là cho một xã hội lành mạnh.
Có rất nhiều dấu hiệu cho thấy “tự do” chưa phải là một khái niệm được tôn trọng trong nhà trường, hay không phải là mục đích của nó.
Tầng thứ tư của con người tự do là tự do kiến tạo, có được trên nền móng từ ba thứ tự do đã nói ở trên. Một người chỉ có thể kiến tạo tương lai nếu tương lai đó đã được kiến tạo trong tâm trí mình trước hết. Tương lai của một con người, tương lai của một quốc gia, nằm ở thứ tự do kiến tạo này.
Đó là lý do vì sao tôi luôn tâm niệm rằng, triết lý giáo dục của thời đại mới không thể là đào tạo con người công cụ như hệ thống giáo dục hiện thời. Con người tự do là đích đến của giáo dục.
Giáp Văn Dương

THẦY LƯƠNG NGỌC HUỲNH: ĐẤT NƯỚC TA CÓ 7 LOẠI NGƯỜI !



Note: Nhận thức của người VN cần phải thay đổi theo hướng tích cực mới mong XH tốt đẹp!

1- Loại thứ nhất: Họ bảo thủ đi theo một lối mòn của một con đường vô định hướng, nhưng họ quyết tâm đi cho bằng được và lái tất cả đi theo con đường đó! Mặc dù phía cuối con đường là chông gai và sụp đổ họ vẫn cứ đi. Loại người này ta gọi là "ngu mà còn tỏ ra nguy hiểm"!
2- Loại thứ hai: Họ luồn cúi và nịnh bợ liếm láp mọi thứ và sẵn sàng làm chó cho loại thứ nhất! Loại người này là loại vô liêm sỉ họ đã đổi sự nhục nhã để lấy miếng cơm ăn!
3- Loại thứ ba: Họ không quan tâm đến mọi thứ xung quanh, họ thờ ơ với tất cả, và họ chỉ cần biết lo cho bản thân mình! Loại người này là loại vô hồn, vô cảm, vô tâm!
4- Loại thứ tư: Họ tàn nhẫn cướp của giết người, ăn cắp ăn trộm, đĩ điếm, giả dối, lừa lọc, sống bầy đàn độc ác và man rợ! Loại người này là giống vô loài!
5- Loại thứ năm: Họ biết đúng sai nhưng miệng họ luôn ngậm một hạt thị và không bao giờ dám mở mồm! Loại người này ta gọi là đồ hèn nhát!
6- Loại thứ sáu: Họ bị cuồng tín bởi những lý luận duyên, nghiệp, họ không đấu tranh và chấp nhận bị áp bức! Loại người này thật đáng thương và đáng yêu với những thể chế chính trị mị dân!
7- Loại thứ bảy: Họ sống có trách nhiệm, ngay thẳng, sòng phẳng và công bằng, họ dám nói lên chính kiến của mình, họ mong muốn xã hội tiến lên tốt đẹp, nhưng do 6 loại kia đông quá nên họ khó có thể thay đổi tư duy của giống người Việt Nam!
Cho nên gọi là đất nước "thất nhân" thế mới sinh ra thất đức, thất tín, nói một đường làm một nẻo! Chúng ta cần loại người thứ 7 phát triển thật nhiều để lấn át 6 loại còn lại. Những ai đang là một trong sáu loại kia nên vắt tay lên trán suy nghĩ để làm sao cho con cháu giống nòi Việt Nam trong tương lai đừng hèn như những gì chúng ta đã và đang làm!
Nói thật mất lòng cũng được! Nhưng nó sẽ làm cho người ta khôn từ từ.


"DỤNG NHÂN NHƯ DỤNG MỘC"

Thấy tôi hay có bài viết phản biện, trong đó có một số lãnh đạo các cấp từ TƯ đến địa phương bị tôi chê về phát ngôn và ứng xử, một anh bạn nói:
- Ai ông cũng chê, có lẽ chỉ vợ chồng ông là người tài giỏi!
Tôi đáp:
- Anh nói thế không phải, giả sử anh không là kiến trúc sư nhưng nhìn ngôi nhà người ta anh cũng có thể nhận xét được nhà đó đẹp hay xấu, nhưng nếu ai đó thách đố anh vẽ cái nhà đó chắc chắn anh không thể làm được!
Anh bạn gật đầu:
- Đúng thế!

Người xưa nói "dụng nhân như dụng mộc", người tài trong xã hội rất nhiều, tùy theo lĩnh vực và cấp độ để dùng cho đúng mới đưa đất nước tiến bộ! Ngặt nổi, công tác cán bộ hiện nay, theo quan sát của nông dân tui đa số đặt nhầm vị trí thành ra mới lộn tùng phèo!

Chẳng hạn, cái ông đi du kích năm xưa ở trong rừng về thành phố, sau đó đảng cử đi học bổ túc văn hóa, học lấy cái bằng tại chức, rồi làm cái thạc sĩ, tiến sĩ để lòe thiên hạ, cứ "lấy đà" leo dần lên trung ương làm đến Thứ trưởng, Bộ trưởng, Thủ tướng ... mà đáng lẽ tầm các ông chỉ lãnh đạo cấp huyện tỉnh, thì sao xứng tầm mà đảm đương công việc? Sao không bị dân chê? Thử hỏi rằng lãnh đạo TƯ có mấy ông giao tiếp được tiếng Anh khi ra nước ngoài tại các diễn đàn quốc tế?

Một xã hội văn minh là xã hội biết trọng dụng nhân tài, biết đặt người đúng các vị trí. Ai có thiên hướng gì thì đào tạo ngành đó: Thích làm khoa học thì đi học kỹ sư, có lòng yêu thương chăm sóc sức khỏe con người thì học ngành y khoa, biết lo cho tương lai đất nước thì học sư phạm, muốn giúp dân hoạch định chính trị thì học ngành quản trị hành chánh, Muốn làm thợ lành nghề thì vào học các trường nghề .... Và học ngành gì phải học cho sâu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ! Điều cốt lõi là phải minh bạch, dân chủ trong bổ nhiệm, bầu cử, ứng cử!

Nếu đặt trường hợp tôi, người ta cất nhắc tôi làm lãnh đạo các cấp tôi cũng xin từ chối bởi tôi đâu được học ngành quản trị hành chánh, đâu có biết xử lý công việc cho dân thì sao dám nhận bừa được?

Tôi là nông dân thì chỉ biết nghiên cứu trồng cây gì, nuôi con gì cho thu nhập tốt mà không gây hại đến đồng bào, không bị lệ thuộc Trung Quốc là hạnh phúc lắm rồi! Có điều tính tôi thường quan sát sự vật, hiện tượng, đặc biệt thấy bức xúc là tôi không thể bỏ qua, vì thế đôi khi gây khó chịu cho nhiều người và tôi chỉ dừng lại ở mức biết quan tâm đến chính trị xã hội chứ không có thiên hướng làm chính trị!

Vì thế xin nhấn mạnh một lần nữa, tôi là người rất quan tâm đến chính trị đất nước. Tuy nhiên, xin mọi người hãy phân biệt cụ thể giữa quan tâm chính trị với làm chính trị là 2 khái niệm khác biệt hoàn toàn không thể đồng nhất chúng, bởi nếu đồng nhất chắc chắn có nhiều người e ngại không dám phản biện xã hội vì sợ bị chụp mũ là có động cơ "làm chính trị"

Gỗ xấu mà đặt vào vị trí trọng tâm thì không hiệu quả đôi khi gây gãy đổ nguy hiểm đến người khác, gỗ tốt đặt vào chỗ xấu thì thật lảng phí!

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2017

NGƯỜI NỔI TIẾNG HÀI HƯỚC, DÍ DỎM CỦA LÀNG THẾ CHÍ TÂY !

Tôi biết anh từ thuở tôi còn niên thiếu vì mê sinh hoạt gia đình Phật tử nhưng ngặt nổi ba tôi không biết vì lý do gì không cho tôi tham gia, thế là tôi thường lân la đến xem các đoàn sinh sinh hoạt hàng tuần hoặc cắm trại dịp kỷ niệm Lễ Phật Đản.
Thời VNCH, bấy giờ tôi khoảng 10 tuổi bắt đầu mê sinh hoạt tập thể. Mặc dù tôi không theo đạo Phật nhưng nhà tôi ở gần chùa Thế Chí Tây, cứ hằng tuần tôi đến coi đoàn sinh sinh hoạt, lúc bấy giờ làm quản trò có nhiều anh chị như anh Huế, anh Minh, anh Lý ... nhưng cứ mỗi lần anh trong vai trò huynh trưởng làm quản trò, miệng thổi còi đồng tổ chức sinh hoạt cho đoàn sinh thì sinh động, hào hứng hơn cả! Anh kể chuyện, pha trò, tập hát rồi tổ chức đánh morse ( kỹ thuật truyền tin) làm cho các em mê tít thò lò! Đặc biệt nhất là dịp cắm trại mừng ngày Lễ Phật đản, anh vừa biên kịch, đạo diễn vừa diễn viên biểu diễn những vỡ hài kịch, bi hùng kịch làm nức lòng người hâm mộ!
Tuy không được đào tạo bài bản nhưng được trời cho năng khiếu văn nghệ, anh cũng tập tành làm nhạc để động viên tập hợp đoàn sinh của chùa Thế Chí Tây. Ngồi nói chuyện khơi lại quá khứ, anh đã hát cho tôi nghe bài hát “Đoàn sinh” do anh tự đặt nhạc “ Đời vui thú khi gần các em, tay nắm tay. Vườn chúng ta luôn luôn nở trái, hoa chúng ta luôn xinh tươi hoài! Đời anh vui khi các em sinh hoạt quá đông, đời anh lo khi các em sinh hoạt không đồng. Càng sung sướng khi các em theo con đường sáng tươi! Vì đàn em, muôn đắng cay anh chị vui cười”.
Anh kể lần đó đi sinh hoạt với chùa Vân Trình, anh cao hứng đặt nhạc rồi tập hát luôn cho đoàn sinh , lời bài hát như sau “ Vân Trình với Thế Chí Tây, cùng nhau sum họp dưới ánh trăng rằm Trung thu. Trăng rằm, trăng sáng như ánh hào quang. Nhìn trăng ta thấy trăng tròn, nắm tay kết bạn tình tròn như trăng” .
Khoảng hơn 30 năm nay, sau khi cụ Thiêm qua đời, anh về ở hẳn tại chùa để lo việc Phật sự, một tay anh lo dâng hương, tụng kinh niệm Phật, đánh chuông chùa vào lúc từ 3 giờ sáng hàng ngày và tổ chức lễ tang cho các Phật tử trong làng. Kể về chất giọng đọc kinh Phật thì làng Thế Chí Tây theo như nhận xét của nhiều người chưa ai có thể qua được hơi của anh!
Anh em ngồi nói chuyện một lúc, tôi nói rằng làng ta hiện môi trường bị xâm hại nặng, cá tôm không có mà bắt, độn mái nhà nay cũng không còn, anh xổ một tràn nói lối làm tôi cười chảy nước mắt:
XƯA VÀ NAY
“Ngày xưa có độn mái nhà, có bàu tiên thủy có bà cào dương
Ngày nay không độn mái nhà, không bàu tiên thủy, không bà cào dương
Ngày xưa có độn cột trâu, có người ngủ độn có trâu rựt nài
Ngày nay không độn cột trâu, không người ngủ độn không có trâu rựt nài
Ngày xưa có cá, có bàu, có người bắt cá zét tràu cũng vui
Ngày nay không cá, không bàu, không người bắt cá zét, tràu cũng không”
Tính hài hước làm anh sống vui vẻ lạc quan dù cả trong hoàn cảnh bi đát, dạo cuối tháng 8 năm ngoái nghe tin anh bị nhiễm trùng ngón chân dẫn đến hoại tử, đang nằm điều trị ở bệnh viện Huế mới được 1 ngày, anh em bà con ở Buôn Ma Thuột gọi điện hỏi thăm anh bệnh tình thế nào, anh nói “ngày mai bớt!”, người đâu dây bên kia ngạc nhiên: “mới điều trị 01 ngày bớt (khỏi bệnh) mau vậy”, anh nói “ Ngày mai bác sỹ nói cắt bớt một ngón chân”, đầu dây bên kia cười té ghế!
Khi tôi ghé chùa Thế Chí Tây thăm anh thấy chùa đóng cổng, người ta chỉ tôi tìm lại nhà thăm anh, thấy anh đang ngồi trên xe lăn, tôi hỏi “ Dạo ni anh về ở nhà luôn à?”, anh nói lối “ Chùa thì giao lại Phật Di Đà, còn mình tìm về nhà mình ở” . Tôi nói, nghe anh chỉ bị nhiễm trùng 01 ngón chân sao bác sỹ cưa quá đầu gối thế này? Anh kể ban đầu chỉ ở ngón chân do bị chân chống xe máy quệt vào nhưng sau đó tắt tĩnh mạch dần dần gây hoại tử, để đảm bảo, bệnh viện chỉ định cưa quá đầu gối, hiện đã lành vết thương , đang chờ lấy cái chân giả lắp vào. Tôi hỏi thăm anh sức khỏe từ sau khi cưa cái chân bị nhiễm trùng như thế nào? Anh nói “Sức khỏe thì dồi dào, ra đến hàng rào muốn lộn lui (đi vô lại nhà)”, khi hỏi anh ăn uống hàng ngày có ngon miệng không, anh đáp “ Ăn uống bình thường. ra đường trẻ ngại, nghĩ lại quá tồi, ngồi nhiều hơn đi…” làm tôi cười chảy cả nước mắt!
Thế đấy, đôi khi anh tự trào lộng mình, tạo tiếng cười cho đời để tâm hồn luôn thanh thản!
Trên đây là ghi chép trong chốc lát ghé thăm anh, còn biết bao nhiêu chuyện hài hước mà hễ gặp người thôn 6, hỏi chuyện người ta sẽ kể cho các bạn nghe!
Nếu ai muốn vui cười thì về gặp anh Nguyễn Đăng Trang làng Thế Chí Tây, xã Điền Hòa huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế!


Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2016

CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ ...


Nguyễn Đức Toàn
(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí,mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần - Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt. 

Nội dung như sau :
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471
Ông Hãn2
Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.
            Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:       
身 在 南 蕃 無 所 預
心 懐 百 憂 復 千 慮
(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
            Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
            Đất khách mơ - màng những thở - than,
            Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
            Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
            Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
                                                            Nay kính thư
                                                                        Trần Trọng Kim [tr4]
Chú thích :

1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.

4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại - Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.

6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167...

9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”

10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, ... sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.

12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.

14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự "khó tính" của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần "Nam kỳ quốc"và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.

23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd). 

24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà "Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên." (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.
_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần - Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Phụ lục ảnh nguyên bản:
.