Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

"DỤNG NHÂN NHƯ DỤNG MỘC"

Thấy tôi hay có bài viết phản biện, trong đó có một số lãnh đạo các cấp từ TƯ đến địa phương bị tôi chê về phát ngôn và ứng xử, một anh bạn nói:
- Ai ông cũng chê, có lẽ chỉ vợ chồng ông là người tài giỏi!
Tôi đáp:
- Anh nói thế không phải, giả sử anh không là kiến trúc sư nhưng nhìn ngôi nhà người ta anh cũng có thể nhận xét được nhà đó đẹp hay xấu, nhưng nếu ai đó thách đố anh vẽ cái nhà đó chắc chắn anh không thể làm được!
Anh bạn gật đầu:
- Đúng thế!

Người xưa nói "dụng nhân như dụng mộc", người tài trong xã hội rất nhiều, tùy theo lĩnh vực và cấp độ để dùng cho đúng mới đưa đất nước tiến bộ! Ngặt nổi, công tác cán bộ hiện nay, theo quan sát của nông dân tui đa số đặt nhầm vị trí thành ra mới lộn tùng phèo!

Chẳng hạn, cái ông đi du kích năm xưa ở trong rừng về thành phố, sau đó đảng cử đi học bổ túc văn hóa, học lấy cái bằng tại chức, rồi làm cái thạc sĩ, tiến sĩ để lòe thiên hạ, cứ "lấy đà" leo dần lên trung ương làm đến Thứ trưởng, Bộ trưởng, Thủ tướng ... mà đáng lẽ tầm các ông chỉ lãnh đạo cấp huyện tỉnh, thì sao xứng tầm mà đảm đương công việc? Sao không bị dân chê? Thử hỏi rằng lãnh đạo TƯ có mấy ông giao tiếp được tiếng Anh khi ra nước ngoài tại các diễn đàn quốc tế?

Một xã hội văn minh là xã hội biết trọng dụng nhân tài, biết đặt người đúng các vị trí. Ai có thiên hướng gì thì đào tạo ngành đó: Thích làm khoa học thì đi học kỹ sư, có lòng yêu thương chăm sóc sức khỏe con người thì học ngành y khoa, biết lo cho tương lai đất nước thì học sư phạm, muốn giúp dân hoạch định chính trị thì học ngành quản trị hành chánh, Muốn làm thợ lành nghề thì vào học các trường nghề .... Và học ngành gì phải học cho sâu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ! Điều cốt lõi là phải minh bạch, dân chủ trong bổ nhiệm, bầu cử, ứng cử!

Nếu đặt trường hợp tôi, người ta cất nhắc tôi làm lãnh đạo các cấp tôi cũng xin từ chối bởi tôi đâu được học ngành quản trị hành chánh, đâu có biết xử lý công việc cho dân thì sao dám nhận bừa được?

Tôi là nông dân thì chỉ biết nghiên cứu trồng cây gì, nuôi con gì cho thu nhập tốt mà không gây hại đến đồng bào, không bị lệ thuộc Trung Quốc là hạnh phúc lắm rồi! Có điều tính tôi thường quan sát sự vật, hiện tượng, đặc biệt thấy bức xúc là tôi không thể bỏ qua, vì thế đôi khi gây khó chịu cho nhiều người và tôi chỉ dừng lại ở mức biết quan tâm đến chính trị xã hội chứ không có thiên hướng làm chính trị!

Vì thế xin nhấn mạnh một lần nữa, tôi là người rất quan tâm đến chính trị đất nước. Tuy nhiên, xin mọi người hãy phân biệt cụ thể giữa quan tâm chính trị với làm chính trị là 2 khái niệm khác biệt hoàn toàn không thể đồng nhất chúng, bởi nếu đồng nhất chắc chắn có nhiều người e ngại không dám phản biện xã hội vì sợ bị chụp mũ là có động cơ "làm chính trị"

Gỗ xấu mà đặt vào vị trí trọng tâm thì không hiệu quả đôi khi gây gãy đổ nguy hiểm đến người khác, gỗ tốt đặt vào chỗ xấu thì thật lảng phí!

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2017

NGƯỜI NỔI TIẾNG HÀI HƯỚC, DÍ DỎM CỦA LÀNG THẾ CHÍ TÂY !

Tôi biết anh từ thuở tôi còn niên thiếu vì mê sinh hoạt gia đình Phật tử nhưng ngặt nổi ba tôi không biết vì lý do gì không cho tôi tham gia, thế là tôi thường lân la đến xem các đoàn sinh sinh hoạt hàng tuần hoặc cắm trại dịp kỷ niệm Lễ Phật Đản.
Thời VNCH, bấy giờ tôi khoảng 10 tuổi bắt đầu mê sinh hoạt tập thể. Mặc dù tôi không theo đạo Phật nhưng nhà tôi ở gần chùa Thế Chí Tây, cứ hằng tuần tôi đến coi đoàn sinh sinh hoạt, lúc bấy giờ làm quản trò có nhiều anh chị như anh Huế, anh Minh, anh Lý ... nhưng cứ mỗi lần anh trong vai trò huynh trưởng làm quản trò, miệng thổi còi đồng tổ chức sinh hoạt cho đoàn sinh thì sinh động, hào hứng hơn cả! Anh kể chuyện, pha trò, tập hát rồi tổ chức đánh morse ( kỹ thuật truyền tin) làm cho các em mê tít thò lò! Đặc biệt nhất là dịp cắm trại mừng ngày Lễ Phật đản, anh vừa biên kịch, đạo diễn vừa diễn viên biểu diễn những vỡ hài kịch, bi hùng kịch làm nức lòng người hâm mộ!
Tuy không được đào tạo bài bản nhưng được trời cho năng khiếu văn nghệ, anh cũng tập tành làm nhạc để động viên tập hợp đoàn sinh của chùa Thế Chí Tây. Ngồi nói chuyện khơi lại quá khứ, anh đã hát cho tôi nghe bài hát “Đoàn sinh” do anh tự đặt nhạc “ Đời vui thú khi gần các em, tay nắm tay. Vườn chúng ta luôn luôn nở trái, hoa chúng ta luôn xinh tươi hoài! Đời anh vui khi các em sinh hoạt quá đông, đời anh lo khi các em sinh hoạt không đồng. Càng sung sướng khi các em theo con đường sáng tươi! Vì đàn em, muôn đắng cay anh chị vui cười”.
Anh kể lần đó đi sinh hoạt với chùa Vân Trình, anh cao hứng đặt nhạc rồi tập hát luôn cho đoàn sinh , lời bài hát như sau “ Vân Trình với Thế Chí Tây, cùng nhau sum họp dưới ánh trăng rằm Trung thu. Trăng rằm, trăng sáng như ánh hào quang. Nhìn trăng ta thấy trăng tròn, nắm tay kết bạn tình tròn như trăng” .
Khoảng hơn 30 năm nay, sau khi cụ Thiêm qua đời, anh về ở hẳn tại chùa để lo việc Phật sự, một tay anh lo dâng hương, tụng kinh niệm Phật, đánh chuông chùa vào lúc từ 3 giờ sáng hàng ngày và tổ chức lễ tang cho các Phật tử trong làng. Kể về chất giọng đọc kinh Phật thì làng Thế Chí Tây theo như nhận xét của nhiều người chưa ai có thể qua được hơi của anh!
Anh em ngồi nói chuyện một lúc, tôi nói rằng làng ta hiện môi trường bị xâm hại nặng, cá tôm không có mà bắt, độn mái nhà nay cũng không còn, anh xổ một tràn nói lối làm tôi cười chảy nước mắt:
XƯA VÀ NAY
“Ngày xưa có độn mái nhà, có bàu tiên thủy có bà cào dương
Ngày nay không độn mái nhà, không bàu tiên thủy, không bà cào dương
Ngày xưa có độn cột trâu, có người ngủ độn có trâu rựt nài
Ngày nay không độn cột trâu, không người ngủ độn không có trâu rựt nài
Ngày xưa có cá, có bàu, có người bắt cá zét tràu cũng vui
Ngày nay không cá, không bàu, không người bắt cá zét, tràu cũng không”
Tính hài hước làm anh sống vui vẻ lạc quan dù cả trong hoàn cảnh bi đát, dạo cuối tháng 8 năm ngoái nghe tin anh bị nhiễm trùng ngón chân dẫn đến hoại tử, đang nằm điều trị ở bệnh viện Huế mới được 1 ngày, anh em bà con ở Buôn Ma Thuột gọi điện hỏi thăm anh bệnh tình thế nào, anh nói “ngày mai bớt!”, người đâu dây bên kia ngạc nhiên: “mới điều trị 01 ngày bớt (khỏi bệnh) mau vậy”, anh nói “ Ngày mai bác sỹ nói cắt bớt một ngón chân”, đầu dây bên kia cười té ghế!
Khi tôi ghé chùa Thế Chí Tây thăm anh thấy chùa đóng cổng, người ta chỉ tôi tìm lại nhà thăm anh, thấy anh đang ngồi trên xe lăn, tôi hỏi “ Dạo ni anh về ở nhà luôn à?”, anh nói lối “ Chùa thì giao lại Phật Di Đà, còn mình tìm về nhà mình ở” . Tôi nói, nghe anh chỉ bị nhiễm trùng 01 ngón chân sao bác sỹ cưa quá đầu gối thế này? Anh kể ban đầu chỉ ở ngón chân do bị chân chống xe máy quệt vào nhưng sau đó tắt tĩnh mạch dần dần gây hoại tử, để đảm bảo, bệnh viện chỉ định cưa quá đầu gối, hiện đã lành vết thương , đang chờ lấy cái chân giả lắp vào. Tôi hỏi thăm anh sức khỏe từ sau khi cưa cái chân bị nhiễm trùng như thế nào? Anh nói “Sức khỏe thì dồi dào, ra đến hàng rào muốn lộn lui (đi vô lại nhà)”, khi hỏi anh ăn uống hàng ngày có ngon miệng không, anh đáp “ Ăn uống bình thường. ra đường trẻ ngại, nghĩ lại quá tồi, ngồi nhiều hơn đi…” làm tôi cười chảy cả nước mắt!
Thế đấy, đôi khi anh tự trào lộng mình, tạo tiếng cười cho đời để tâm hồn luôn thanh thản!
Trên đây là ghi chép trong chốc lát ghé thăm anh, còn biết bao nhiêu chuyện hài hước mà hễ gặp người thôn 6, hỏi chuyện người ta sẽ kể cho các bạn nghe!
Nếu ai muốn vui cười thì về gặp anh Nguyễn Đăng Trang làng Thế Chí Tây, xã Điền Hòa huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế!


Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2016

CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ ...


Nguyễn Đức Toàn
(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí,mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần - Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt. 

Nội dung như sau :
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471
Ông Hãn2
Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.
            Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:       
身 在 南 蕃 無 所 預
心 懐 百 憂 復 千 慮
(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
            Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
            Đất khách mơ - màng những thở - than,
            Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
            Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
            Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
                                                            Nay kính thư
                                                                        Trần Trọng Kim [tr4]
Chú thích :

1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.

4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại - Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.

6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167...

9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”

10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, ... sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.

12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.

14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự "khó tính" của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần "Nam kỳ quốc"và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.

23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd). 

24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà "Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên." (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.
_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần - Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Phụ lục ảnh nguyên bản:
.